Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Bán đất nghĩa trang tại Phú Thọ Công viên Nghĩa trang Thiên Đức - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

Bán đất nghĩa trang tại Phú Thọ Công viên Nghĩa trang Thiên Đức - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT


Hiện nay khách hàng có nhu cầu tìm mua Bán đất nghĩa trang tại Phú Thọ,
quanh khu vực Hà Nội đều quan tâm đến những yếu tố quan trọng như:
phong thủy, hướng tốt, vị trí đẹp hội tụ đủ các yếu tố về mặt phong
thủy, có long mạch, đất nghĩa trang ngũ sắc, giao thông thuận tiện để có
thể đến chăm sóc vào mỗi dịp, và không thể thiếu vấn đề quan trọng nhất
là chi phí phải hợp lý. 

bán đất nghĩa trang tại Phú Thọ
Công viên nghĩa trang Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên Phú Thọ là mô
hình công viên sinh thái được thiết kế phủ xanh tối đa như một khu vườn
sinh thái với các loại hoa cỏ đặc sắc từ các vùng miền trong cả nước. 
Với
diện tích gần 100 hecta, Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên - vùng đất với 9 ngọn
đồi vây quanh hồ "Lục Thủy" trong trẻo tạo nên sắc mầu sinh thái tuyệt
diệu với sự giao hòa của Trời - Đất - Khí - Nước. Công viên nghĩa trang
có nhiều công trình kỳ quan như: Tượng Phật A Di Đà dự kiến cao 48m,
Trục Thần Đạo, Chùa Thiên Long, Bến Lục Thủy, Vườn Tượng Phật, Vườn đào
sẽ là điểm đến về du lịch tâm linh quanh khu vực Miền Bắc nói chung và
Hà Nội, Phú Thọ nói riêng
(Tượng phật A di Đà)
chùa thiên long
Chùa Thiên Long
(Địa Tạng Vương Bồ Tát)
bến lục thủy
Bến Lục Thủy
Các
công trình kiến trúc trong Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên mang sắc thái sang
trọng, hiện đại tạo nên một công viên mang tinh hoa người Việt: với các
hạng mục công trình Đại Lộ Mùa Xuân, Vĩnh Hằng Môn, Hồ Lục Thủy, Nhà Hỏa
Táng, Nhà Tang Lễ, Khu Dịch vụ hoàn hảo … Nằm gọn trong một khoảng
không xanh mướt của cỏ cây, sông nước đất trời.
vĩnh hằng môn
Vĩnh Hằng Môn
hồ lục thủy
Hồ Lục Thủy
Giao
thông thuận lợi nằm gần dự án tuyến đường cao tốc trọng điểm quốc gia:
Hà Nội - Lào Cai, đã rút ngắn quãng đường từ trung tâm Thủ Đô Hà Nội tới
Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên nay cùng với tuyến đường mới qua cầu Nhật Tân
chỉ còn hơn 50km, giảm được 45 phút thời gian đi lại và cách Đền Hùng
6km.
Hệ thống xe đưa đón khách hàng tham quan miễn phí hàng tuần
Đến với Công viên Thiên Đức quý khách hàng có thể lựa chọn nhiều hình thức mộ phần và khuôn viên đất nghĩa trang,
với diện tích khuôn viên đẹp từ 10m2 đến 500m2 như: mộ đơn, mộ đôi, mộ
gia đình, dòng tộc, mộ tôn giáo, mộ doanh nhân, mộ ghép… đội ngũ thiết
kế tư vấn miễn phí, mức giá chi phí hết sức hợp lý được niêm yết công khai. ( 4 – 7 triệu/ 1m2 tùy từng lô và từng vị trí ).
bán đất nghĩa trang phú thọ
Bán đất nghĩa trang Phú Thọ, Hà Nội
Bên cạnh đó chúng tôi đang mở Bán đất nghĩa trang tại Phú Thọ, Hà Nội và trong khu vực Miền Bắc với nhiều sản phẩm đa dạng và  2.000 phần mộ với giá chỉ 12,5 triệu đồng/phần mộ.
Mộ danh nhân
Khuôn viên mộ danh nhân
khuôn viên gia tộc
Mộ gia tộc
Mộ gia đình
Chủ
đầu tư dự án Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Thiên Đức được Uỷ ban nhân
dân Tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận đầu tư số 181023000442 ngày 1-4-
2011 và phê duyệt quy hoạch “Xây dựng công viên nghĩa trang Vĩnh Hằng Phú Thọ” ngày 3.8.2011 Tại Huyện Phù Ninh, Tỉnh Thú Thọ.
IFrame

Video giới thiệu Nghĩa trang Thiên Đức cho khách hàng có nhu cầu Mua bán đất nghĩa trang tại Phú THọ

Đến
với Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên, chúng tôi xin cam kết đảm bảo cung cấp
đầy đủ thông tin dự án và tư vấn chính xác nhất về vị trí, diện tích hay
giá cả cũng như bảo đảm về những quyền lợi cho khách hàng. Khách hàng
đến với Công ty Thiên Đức cũng có nghĩa là làm việc trực tiếp với chủ
đầu tư dự án nghĩa trang Thiên Đức, mà không phải thông qua trung gian,
cò " mua bán đất nghĩa trang " , không mất thêm khoản chi phí ngoài.

Mọi thông tin mua Ban dat nghia trang tai Phu Tho, Hà Nội xin vui lòng liên hệ:

Trưởng phòng Kinh Doanh: Mr Nam - Mobile 0985 85 99 72
Website: http://www.vinhhangvien.com
Email: namthienducvinhhangvien@gmail.com



Xem
thêm: Bán đất nghĩa trang tại Hà Nội, Mua ban dat nghia trang tai Phu
Tho, Mua bán đất nghĩa trang phong thủy đẹp tại Phú Thọ, ban dat nghia
trang, Mua bán đất nghĩa trang tại Việt Trì Phú Thọ, Đất nghĩa trang tại
Phú Thọ giá chỉ 12,5 triệu.



Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT



Được phát hiện trong quá trình san
lấp, giải phóng mặt bằng xây dựng khu nhà ở phường An Phú (quận 2,
TP.HCM) 8 ngôi mộ cổ được rất nhiều các nhà khảo cổ học quan tâm.

8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM1
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM2
Mỗi ngày các nhà khoa học đều phải có mặt tại hiện trường từ sớm cùng nhân công tiến hành các công việc phát quang, đào đất
    
Ngoài Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, Sở Văn hóa - Thể Thao TP.HCM làm chủ
trì, còn có sự tham gia khảo sát của các cơ quan nghiên cứu: Trường đại
học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, Trung tâm Khảo cổ học Viện Khoa
học xã hội vùng Nam bộ... PGS-TS Nguyễn Lân Cường cũng từ Hà Nội bay vào
cùng với các chuyên gia khảo cổ tiến hành ngày đêm xử lý, bơm nước, đãi
cát, sàng lọc đất đá vô cùng vất vả để tìm kiếm và làm rõ các dấu tích
kiến trúc, hình thức tục táng và các di vật, mẫu vật…
      Nhiều người dân ở khu vực này cho biết trước đây khu mộ
nằm trên khu đất cao ráo so với xung quanh nhưng do quá trình đô thị
hóa khiến cho quần thể mộ bị ngập chìm trong nước và sình lầy với nhiều
cây cối đặc trưng của vùng đất phèn mặn.
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM3
     
Mộ ký hiệu 2014.AP.H3.M4 sau khi phát quang giữa đám bần, dừa nước, hút
bùn, đào sâu xuống 0,5 m nhóm phát hiện ngoài phần kiến trúc âm còn có
một số loại hình gốm sứ, thủy tinh nghi là đồ thờ tự gắn với lễ cúng
người đã khuất. Phần quan tài ngôi mộ này đã bị sụp và hủy hoại, chỉ còn
phần đáy quan với lớp tro lẫn đất đen. Điều đặc biệt là ở phần đầu quan
tài xuất hiện lớp búi tóc dài màu bạc và một số răng. Các di vật tìm
thấy như cúc áo, kính mắt, gốm sứ. Căn cứ vào kết quả giám định, PGS-TS
Nguyễn Lân Cường cho rằng có thể người nằm dưới mộ là một nam giới ở vào
độ tuổi trưởng thành.
      Hai mộ
song táng ký hiệu 2014.AP.H6.M05-06 bên cạnh nhau cũng nằm trong cỏ lác,
lau lách nhưng có kiến trúc khá đẹp, kết hợp giữa đá ong, đá xanh và
một số vật liệu hợp chất kết dính. Khu vực huyệt mộ được giới hạn bằng 4
thanh đá, mô hình hai bia mộ ở phía sau và 4 trụ sen bằng chất liệu đá
xanh ở bốn góc. Toàn bộ khuôn viên được bao quanh hệ thống tường mộ bằng
các khối đá ong, trang trí kiến trúc ở phần bờ nóc mái giống với bình
bát sơn trên mũ mão quan lại triều Nguyễn, phía cổng mộ tạo dáng hình
các bệ thờ sập chân quỳ ở hai bên tả hữu. Nền mộ và sân thờ lát gạch
tàu, bên trên lớp gạch tàu là lớp vữa hợp chất mỏng.
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM4
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM5
Quá trình khai quật mộ cổ gặp rất nhiều khó khăn và vất vả
Mộ ký hiệu 2014.AP.H4.M8 không còn di cốt, trong lòng huyệt chỉ tìm thấy một phần mảnh gỗ quan tài hình chữ nhật đã bị mục nát. Mộ
ký hiệu 2014.AP.H2.M14 là của một nam giới 30 - 35 tuổi nên kỹ thuật
chạm trổ không được sắc nét cho lắm, trong quan tài di cốt đã mục nát,
có dấu vết của vải sợi nhỏ mịn và lớp hạt thực vật kết tảng.
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM6
      Ngôi mộ
cổ cuối cùng thì ô hộc chính giữa cổng mộ phía trước có dạng hình
vuông, cát đổ đầy huyệt. Hộp sọ theo thời gian đã bị mủn nát nằm với một
ít xương chân lẫn trong lớp chiếu cói… Đáy mộ bị phá hủy nghiêm trọng,
duy có mảnh quan còn lại theo kết quả giám định niên đại cách đây khoảng
200 năm…

Nhiều nghi vấn cần được giải đáp

     
Qua cách thức an táng 8 ngôi mộ cổ, các nhà khoa học cho rằng những
người chết thuộc dạng có đời sống kinh tế khá giả. Với các đặc điểm, tạo
dáng, trang trí: mô phỏng hình sập chân quỳ ở các bệ thờ, bình phong,
trụ biểu búp sen và mô hình lợp mái ngói âm dương cũng như việc chế tạo
quan tài với 1/3 thân cây gỗ, nhiều đề tài: hoa cúc, hoa lá cây, hồi
văn, sơn son thiếp vàng… chạm trổ trên quách, các đặc điểm an táng bằng
nhựa thông, sử dụng thực vật chống khuẩn, chiếu cói, than tro… cho thấy
sự kế thừa truyền thống của người Việt từ Đàng ngoài cho đến Đàng trong
và thống nhất dưới thời Nguyễn (thế kỷ 19).

8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM7
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM8
“Giở từng trang sách đất” tìm di vật
     
"Có thể trước đây, họ sinh sống ở vùng khác nhưng khi chết tập trung về
đây để chôn vì thời đó quận 2 vẫn còn hoang vắng. Di vật có 1 mắt kiếng
tìm được có thể là của người chết sử dụng vì nửa đầu thế kỷ 19 người ta
thường đeo kính bằng cột dây chứ không có gọng như bây giờ cũng cần
được nghiên cứu thêm. Phần gạch thẻ xây kim tĩnh có thể khai quật xem
ngày sản xuất hoặc xưởng sản xuất”, tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu
nói.
      Còn tiến sĩ Hoàng Anh
Tuấn, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử TP.HCM thì cho rằng: “Cấu trúc mộ song
táng không có nấm mộ dạng hình chữ nhật giật cấp bằng hợp chất của các
quan lại đại thần thời Nguyễn, các loại hình nấm mộ dạng mu rùa của
những người gốc Thuận - Quảng ở miền Trung vào Nam bộ. Ở bên trên cũng
là điều khá lạ và khác biệt so với những phát hiện mộ cổ trước đây. Tấm
bia sót lại duy nhất ghi hai chữ Đại Nam trong quần thể 8 ngôi mộ cổ
cũng hé lộ phần nào về thời gian xây cất mộ.
Trong quá trình khai quật, chúng tôi cho sử dụng mọi phương pháp cần
thiết để không bỏ sót một di vật nào phục vụ cho công tác nghiên cứu của
các nhà khoa học sau này…”
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM9
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM0
       Ông Lê Tôn Thanh, Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thể Thao TP.HCM khẳng định: “Công tác tổ chức khai quật 8 ngôi mộ
cổ ở quận 2 trong thời gian một năm qua được khảo sát, thực hiện khá kỹ
càng và bài bản. Kết quả thu được rất nhiều hiện vật quý giá về mô hình
xây mộ cổ bằng đá ong, các phong tục, tập quán mai táng của người Nam
bộ… Từ đó bổ sung vào kho tư liệu khoa học cho thành phố, tiến hành phục
dựng và bảo tồn để nghiên cứu, làm rõ những nghi vấn cần giải đáp, tiếp
tục hoàn thiện, bổ sung vào lịch sử hình thành và phát triển của Sài
Gòn - TP.HCM. Kết quả khai quật 8 ngôi mộ cổ quy mô lần này hi vọng sẽ
đóng góp vào trong nghiên cứu mộ đá ong điển hình ở Nam bộ xưa”.
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM11
Phát hiện lớp nhựa thông dày dùng để mai táng
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM12
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM13
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM14
Phát hiện khuy áo, mắt kiếng và các đồ dùng sành sứ, gốm
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM15
Kể cả mảnh bom, đạn trong chiến tranh
8 ngôi mộ cổ mới được khai quật tại TP.HCM16
Bia mộ duy nhất được tìm thấy ghi hai chữ Đại Nam cũng giúp cho việc xác định thời gian an táng khu mộ

Tổng hợp Vĩnh Hằng viên.

MAI THU HUYỀN ĐẸP MƠ MÀNG TRÊN SÔNG THIÊN ĐỨC VĨNH HẰNG VIÊN - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

MAI THU HUYỀN ĐẸP MƠ MÀNG TRÊN SÔNG THIÊN ĐỨC VĨNH HẰNG VIÊN - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

Trong
quá trình đoàn phim "Những ngọn nến trong đêm" phần 2 thực hiện những
phân đoạn cuối của phim tại miền Bắc, nữ diễn viên Mai Thu Huyền đã
tranh thủ ghi lại những hình ảnh rất thơ mộng tại Công viên Nghĩa trang Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên - Phú Thọ.


Trúc - Mai Thu Huyền đẹp mặn mà, quý phái trong một loạt ảnh mới chụp
trên sông nước tại Nghĩa trang Thiên Đức Vĩnh Hằng Viên - Phú Thọ khi cô
đang thực hiện những cảnh quay cuối cùng của bộ phim đình đám trên màn
ảnh nhỏ "Những ngọn nến trong đêm" phần 2.
Trong bộ ảnh, Mai Thu Huyền diện váy hoa khoe vẻ đẹp mặn mà nhưng không kém phần quý phái đi dạo quanh trên sông của Công viên Nghĩa trang Thiên Đức.
Khung cảnh dòng sông xanh chảy bao quanh Công viên Nghĩa trang Thiên Đức Vình Hằng Viên tạo nên một không gian đầy thơ mộng để cho nàng Trúc tranh thủ tham quan và tạo dáng tại nơi đây.
Người
đẹp không tuổi Mai Thu Huyền đã không bỏ lỡ cơ hội được du ngoạn trên
thuyền gỗ để tận hưởng những điều thú vị nhất tại nơi có phong cảnh hữu
tình đến như vậy.
Ngoài
ra, diễn viên Bình Minh - Bá Anh cũng đồng hành cùng cô để thực hiện
những phân đoạn trong phim "Những ngọn nến trong đêm" tại nơi này.
C.S
Hình ảnh: Trương Đại Dương.

Đại lễ Vu Lan tại Công viên nghĩa trang Thiên Đức - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

Đại lễ Vu Lan tại Công viên nghĩa trang Thiên Đức - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

Công
viên nghĩa trang Thiên Đức phối hợp cùng Chùa Thiên Long tổ chức đại lễ
cầu siêu với sự tham gia của hàng nghìn tăng ni, phật tử.


polyad
Ngày
14- 15/7 (Âm lịch) vừa qua, mùa lễ Vu Lan, Ban quản lý dự án Công viên
nghĩa trang Thiên Đức cùng với ban trị sự chùa Thiên Long đã tổ chức đại
lễ cầu siêu tại Công viên Thiên Đức. Buổi lễ diễn ra tại sân chùa với
sự tham gia của hàng nghìn phật tử. 
polyad
Lễ
Vu Lan mang ý nghĩa lớn là báo ân cha mẹ, đồng thời còn bao hàm ý nghĩa
tìm về cội nguồn, là biết ơn. Tư tưởng ấy phù hợp với tư duy hiền hậu
chất phác, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của
người Việt Nam.
polyad
Hàng nghìn người đã đến công viên nghĩa trang để cầu siêu cho người thân đang an nghỉ tại đây.
polyad
Các nghi thức mở đầu lễ cầu siêu diễn ra trong không khí linh thiêng, trang trọng.
polyad
Khách tham dự cùng nhau cầu nguyện cho vong linh người đã khuất.
polyad
Hàng nghìn người từ khắp nơi đã về đây để tưởng nhớ người đã khuất, cầu mong cho linh hồn họ được siêu thoát.
polyad
Lễ phóng sinh sau đại lễ thu hút đông đảo phật tử tham gia.
polyad
Kết thúc đại lễ, các phật tử sẽ được thưởng thúc các món cơm chay đặc trưng trong ngày lễ Vu Lan.
polyad
Đây
là một trong những hoạt động ý nghĩa mà Công viên nghĩa trang Thiên Đức
tổ chức trong dịp lễ Vu Lan để mọi người thể hiện lòng thành kính, sự
biết ơn đối với những người đã khuất.
polyad
Khách tham dự chụp ảnh kỷ niệm.
(Nguồn: Công viên nghĩa trang Thiên Đức)

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Hướng dẫn cách cúng bái, vái, lạy, lễ tổ tiên theo phong tục - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

Hướng dẫn cách cúng bái, vái, lạy, lễ tổ tiên theo phong tục - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

Hướng dẫn cách cúng bái, nghi thức cúng gia tiên theo đúng nguyên tắc phong tục tập quán, định nghĩa của cúng, khấn, vái và lạy.

I. Nghi-Thức Cúng Gia-Tiên

Khi
cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc
“đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn
cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi
những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương)
đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa
lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên
quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình
ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu
nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn
rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu
bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì
phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn,
Vái, và Lạy.


II. Định-Nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy

a. Cúng

Khi
có giỗ Tết, gia-chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ-bàn, chén bát,
đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến
(đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu-kính, biết ơn, và cầu
phước-lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình-thường, cúng là
thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.
b. Khấn (*)

Khấn
là lời cầu-khẩn lầm-rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ
liên-quan đến các chi-tiết về ngày tháng năm, nơi-chốn, mục-đích buổi
cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời
hứa.
Sau khi khấn, người ta thường
vái vì vái được coi là lời chào kính-cẩn. Người ta thường nói khấn vái
là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm
khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)
c. Vái

Vái
thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái
thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để
trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau
đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi
ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái (xem
phần sau).

d. Lạy

Lạy
là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và
thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có
hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường
hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang
ý-nghĩa khác nhau.

- Thế Lạy Của Đàn Ông

Thế
lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước
ngực và dơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp
xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp
xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp
đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ- phục. Sau đó cất người lên bằng
cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên
và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà
đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái
đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy
(xem phần Ý-Nghĩa của Lạy dưới đây). Khi lạy xong thì vái ba vái rồi
lui ra.
Có thể quì bằng chân phải hay
chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy
trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị
cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn
tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo
kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước
vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi
ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía
trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.
Thế
lạy phủ-phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa
hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng-thời quì hai đầu gối xuống
luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà
không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy
đã tập-luyện hằng-ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh-thoảng quí cụ mới
đi lễ chùa, phải cẩn-thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của
mấy Thầy thì rất có thể mất thăng-bằng.
- Thế Lạy Của Đàn Bà

Thế
lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về
phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc
áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo
sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để
ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó
mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp
đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai
giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp
hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy
tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy
xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
Cũng
có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu,
để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai
tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe
hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục
lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và
đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.
Thế
lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các
bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của
đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay
chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong
dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà
thôi.
Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa
của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng
tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên
phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn
ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi
việc sẽ thành.

III . Ý-Nghĩa của Lạy và Vái

Số
lần lạy và vái đều mang một ý-nghĩa rất đặc-biệt. Sau đây chúng tôi xin
trình-bày về ý-nghĩa của vái và lạy. Đây là phong-tục đặc-biệt của Việt
Nam ta mà người Tàu không có tục-lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3
lạy hay vái 3 vái mà thôi.
a. Ý-Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái

Hai
lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể
lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em,
con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.
Nếu
vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này,
như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác.
Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn,
các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc
cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v.
v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài
đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4
vái.
Theo nguyên lý âm-dương, khi
chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy
này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự
sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.
b. Ý-Nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái

Khi
đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng
(xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến
trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là
giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều
chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch,
thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo.
Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có
khi 4 hay 5 lạy.
Trong trường-hợp
cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy,
ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.
c. Ý-Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái

Bốn
lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy
tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây:
thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái
Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi
âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương
vào đó để làm chỗ trú-ngụ.
Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.
d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái

Ngày
xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc,
thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành-thổ màu
vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn
phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay,
trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì
Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.
Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.
IV Kết Luận

Phong
tục có được là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không
giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng
thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta,
con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như
thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên,
và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.
Thờ
cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu
thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của
người Việt mà chúng ta cần phải duy trì.
(*)
Góp ý thêm :Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời
khấn là tấm lòng của người còn sống. thì muốn khấn sao cũng được. Tuy
nhiên người xưa cũng đã đặt ra lễ khấn và lời khấn.
Lễ khấn gồm các thủ tục như sau:

1.
Sau khi mâm cỗ đã đặt xong thì gia trưởng ăn mặc chỉnh tề (ngày xưa thì
khăn đống áo dài) đi ra mở cửa chính. Ở xứ lạnh thì cũng phải ráng hé
cửa chứ không đóng được cửa kín mít.
2. Sau đó phải khấn xin Thành Hoàng Thổ địa để họ không làm khó dễ Linh về hưởng lễ giỗ.
3. Và sau đây là một đoạn khấn theo lối xưa:
Duy
.....quốc.....Tỉnh/Thị xa.... trang/gia tại... (số nhà). Việt lịch thứ
488..., thử nhật ... (ngày âm lịch) húy nhật gia phụ/mẫu/Tằng tổ v.v. là
Hiển khảo/Tỷ.. (tên) (cho đàn bà thì là hiển tỷ; với ông nội ngọai thì
thêm chữ tổ - hiển tổ khảo/tỷ), Hiếu tử/nữ/tôn v.v là (Tên) tâm thành
kính cáo thành hoàng và thổ thần bản địa, tiền chủ tiếp dẫn gia phụ
mẫu/cô di v.v. (Người được giỗ hôm nay) đồng cung thỉnh Cao tằng tổ
khảo, cao tằng tổ tỷ, liệt vị tổ tiên, hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, cô di
tỷ muội, nội ngoại đồng giai lâm, tọa ngự linh sàn chứng giám. Cẩn cáo.
Cúng giỗ

Theo
tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên
ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã
khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình
trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người
sống giữ gìn gia phong. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên
mới gọi là ăn giỗ, thì cũng là trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc
gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình,
chuyện làm ăn. Với ý nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" việc đó có thể xếp vào
loại thuần phong mỹ tục.

* Ngày cúng giỗ

Ngày
giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của
tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.
Nguyên
ngày trước, "Lễ giỗ" gọi là "Lễ chính kỵ"; chiều hôm trước lễ chính kỵ
có "lễ tiên thường" (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ
vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà
con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì
bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản
lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả
hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả
nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng
ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.
* Mấy đời tống giỗ

Theo
gia lễ: "Ngũ đại mai thần chủ", hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần
chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới
mất mà thế vào thần chủ ông khảo.
Theo
nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân mình và
tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy là chỉ có 4 đời
làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can),; cụ (hay cô), ông bà,
cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà
nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.
* Cúng giỗ người chết yểu

Những
người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc
mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng
chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng). Những người đó có
cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh
ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay
toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con
cháu người thừa tự đó tiếp tự.
Những
người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục
lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với
tiên tổ. Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại
lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt
bên cạnh mân, coi như người thân còn sốngtrong gia đình. Ðiều này không
có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân
nhân đã khuất.
Giỗ tết, Tế lễ

Hướng dẫn cách cúng bái, vái, lạy, lễ tổ tiên theo phong tục

Quan
niệm cổ xưa không riêng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật do
tạo hóa sinh ra đều có linh hồn, mỗi loại vật, kể cả khoáng vật, thực
vật cũng có cuộc sống riêng của nó. Mọi vật trong tạo hoá hữu hình hay
vô hình, cụ thể hay trừu tượng đều mang khái niệm âm dương, đều có giống
đực giống cái. Ðó là xuất xứ tục bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc
trên thế giới và một vài dân tộc ở miền núi nước ta.

ta, hòn đá trên chùa, cây đa đầu đình, giếng nước, cửa rừng cũng được
nhân dân thờ cúng, coi đó là biểu tượng, nơi ẩn hiện của vị thiên thần
hay nhân thần nào đó. Người ta "sợ thần sợ cả cây đa" mà cúng cây đa, đó
không thuộc tục bái vật. Cũng như người ta lễ Phật, thờ Chúa, quì trước
tượng Phật, tượng Chúa, lễ Thần, quì trước long ngai của thần, nhưng
thần hiệu rõ ràng, chứ không phải khúc gỗ hòn đá như tục bái vật.
Ngày
nay chỉ còn lại vài dấu vết trong phong tục. Thí dụ, bình vôi là bà
chúa trong nhà, chưa ai định danh là bà chúa gì, nhưng bình vôi tượng
trưng cho uy quyền chúa nhà, nhà nào cũng có bình vôi. Khi có dâu về
nhà, mẹ chồng tạm lánh ra ngõ cũng mang bình vôi theo, có nghĩa là tạm
lánh nhưng vẫn nắm giữ uy quyền. Khi lỡ tay làm vỡ bình vôi thì đem mảnh
bình còn lại cất ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đình chùa, không vứt ở
chỗ ô uế.
Gỗ chò là loại gỗ quí, gỗ
thiêng chỉ được dùng để xây dựng đình chùa, nhà thờ. Dân không được dùng
gỗ chò làm nhà ở. Ngày xưa trong đám củi theo lũ cuốn về xuôi, nếu có
gỗ chò, các cụ còn mặc áo thụng ra lạy.
Sưu tầm

Lưu ý khi sắm lễ cúng cô hồn Rằm tháng Bảy - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT

Lưu ý khi sắm lễ cúng cô hồn Rằm tháng Bảy - CÔNG VIÊN NGHĨA TRANG VĨNH HẰNG VIÊN BÁN ĐẤT



Sắm lễ cúng cô hồn Rằm tháng Bảy
được coi là để "cứu giúp" linh hồn khốn khổ, hoặc "hối lộ" để khỏi bị
các oan hồn quấy phá, để được họ "hỗ trợ".
Cúng
rằm tháng bảy hay còn gọi cúng Tết Trung Nguyên, cúng Vu Lan báo hiếu
tại nhà thường có 4 lễ: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, và
cúng thí thực cô hồn.
Ngoài
việc cúng Phật, cúng thần linh và cầu siêu cho gia tiên, người Việt còn
có lễ cúng bố thí cho các cô hồn khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi
nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã hội… Thời gian cúng có thể
cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

Mâm cỗ chay cúng ngày Rằm tháng Bảy
Sắm lễ cúng cô hồn

– Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.
– Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).
– Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.
– Kẹo bánh. Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).
– Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)
Chú
ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây,
Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời.
Có thể đọc bài văn khấn hoặc tụng Nghi thức cúng thí thực cô hồn (cúng chúng sinh) trong Kinh Nhật tụng.
Cúng Phật

Trước
tiên, đó là ngày lễ Vu Lan, xuất phát từ tích kể đức Mục Kiền Liên xả
thân cứu mẹ. Sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để
cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà.
Cúng thần linh và gia tiên

Ngày
Rằm tháng Bảy, theo tín ngưỡng dân gian, còn là ngày mở cửa ngục, các
vong nhân được xá tội nên có lễ cúng Cô Hồn (vào buổi chiều) cho các
vong linh không nhà cửa, không nơi nương tựa.
Một
số người Việt Nam tin rằng Lễ Xá tội vong nhân bắt nguồn từ công việc
đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm, cứ đến tháng 6-7 âm
lịch là vào vụ thu hoạch mùa màng. Để công việc được may mắn, không gặp
trắc trở, người dân thường cầu xin thần linh, thổ địa... bắt giam những
yêu ma, oan hồn lại cho khỏi quấy nhiễu.
Cúng chúng sinh

Cuối
cùng là lễ cúng chúng sinh hay còn gọi là cúng bố thí cho các cô hồn
khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái ở
kiếp trước...Những vong hồn này rất đáng thương vì không được ai thờ
cúng, hoặc chết đường chết chợ lang thang vạ vật không tìm được đường về
với tổ tiên.
Lễ
cúng chúng sinh nên cúng ngoài trời, hoặc trước cửa chính ngôi nhà. Gia
chủ có thể khấn nôm theo tâm nguyện và rải lòng thương của mình đối với
các cô hồn, mong linh hồn giải thoát khỏi những bám víu trần thế đau
khổ, chỉ đường đến các chùa to miếu lớn để được nương tựa ánh sáng từ bi
vô lượng nơi cửa chùa.


Huyền Thương